In vivo là gì

In vivo là gì

2021

Bạn có thể đã gặp các thuật ngữ “in vitro” và “in vivo” khi đọc về các nghiên cứu khoa học. Hoặc có lẽ bạn đã quen thuộc với họ khi nghe nói về các th

*

NộI Dung:

Bạn có thể đã gặp các thuật ngữ “in vitro” và “in vivo” khi đọc về các nghiên cứu khoa học. Hoặc có lẽ bạn đã quen thuộc với họ khi nghe nói về các thủ tục như thụ tinh trong ống nghiệm.

Nhưng những thuật ngữ này thực sự có nghĩa là gì? Tiếp tục đọc khi chúng tôi phân tí;ch sự khác biệt giữa các thuật ngữ này, đưa ra một số ví; dụ thực tế và thảo luận về ưu và nhược điểm của chúng.

Bạn đang xem: In vivo là gì

Định nghĩa

Dưới đây, chúng ta sẽ khám phá một số định nghĩa chi tiết hơn và thảo luận ý nghĩa của từng thuật ngữ trong các ngữ cảnh khác nhau.

In vivo

In vivo là tiếng Latinh có nghĩa là “bên trong cuộc sống”. Nó đề cập đến công việc được thực hiện trong toàn bộ cơ thể sống.

Trong ống nghiệm

In vitro là tiếng Latinh có nghĩa là “trong kí;nh.” Khi một cái gì đó được thực hiện trong ống nghiệm, nó sẽ xảy ra bên ngoài một cơ thể sống.

Tại chỗ

In situ có nghĩa là “ở vị trí; ban đầu”. Nó nằm ở đâu đó giữa in vivo và in vitro. Một cái gì đó được thực hiện tại chỗ có nghĩa là nó được quan sát trong bối cảnh tự nhiên của nó, nhưng bên ngoài một sinh vật sống.

Ví; dụ thực tế

Bây giờ chúng ta đã xác định các thuật ngữ này, hãy khám phá một số ví; dụ thực tế về chúng.

Học

Phương pháp in vitro, in vivo hoặc in situ được sử dụng trong các nghiên cứu khoa học. Trong một số trường hợp, các nhà nghiên cứu có thể sử dụng nhiều phương pháp để kiểm tra giả thuyết của họ.

Trong ống nghiệm

Các phương pháp in vitro được sử dụng trong phòng thí; nghiệm thường có thể bao gồm những thứ như nghiên cứu tế bào vi khuẩn, động vật hoặc người trong nuôi cấy. Mặc dù điều này có thể cung cấp một môi trường được kiểm soát cho một thí; nghiệm, nhưng nó xảy ra bên ngoài cơ thể sống và kết quả phải được xem xét cẩn thận.

In vivo

Khi một nghiên cứu được thực hiện in vivo, nó có thể bao gồm những thứ như thực hiện các thí; nghiệm trên một mô hình động vật hoặc trong một thử nghiệm lâm sàng ở người. Trong trường hợp này, công việc đang diễn ra bên trong một cơ thể sống.

Tại chỗ

Phương pháp in situ có thể được sử dụng để quan sát mọi thứ trong bối cảnh tự nhiên của chúng, nhưng bên ngoài cơ thể sống. Một ví; dụ điển hình về điều này là một kỹ thuật được gọi là lai tại chỗ (ISH).

ISH có thể được sử dụng để tìm kiếm một axit nucleic cụ thể (DNA hoặc RNA) trong một cái gì đó giống như một mẫu mô. Các đầu dò chuyên dụng được sử dụng để liên kết với một trình tự axit nucleic cụ thể mà nhà nghiên cứu đang tìm kiếm.

Những đầu dò này được gắn thẻ những thứ như phóng xạ hoặc huỳnh quang. Điều này cho phép nhà nghiên cứu xem vị trí; của axit nucleic trong mẫu mô.

ISH cho phép nhà nghiên cứu quan sát vị trí; của axit nucleic trong bối cảnh tự nhiên của nó, nhưng bên ngoài cơ thể sống.

Sự thụ tinh

Có thể bạn đã nghe nói về thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Nhưng chí;nh xác thì điều đó có nghĩa là gì?

IVF là một loại điều trị vô sinh. Trong IVF, một hoặc nhiều trứng được lấy ra từ buồng trứng. Sau đó, trứng được thụ tinh trong phòng thí; nghiệm và cấy trở lại tử cung.

Vì quá trình thụ tinh xảy ra trong môi trường phòng thí; nghiệm chứ không phải trong cơ thể (in vivo), quy trình này được gọi là thụ tinh trong ống nghiệm.

Xem thêm: Era Là Gì – Nghĩa Của Từ Era, Từ Từ điển Anh

Độ nhạy với kháng sinh

Thuốc kháng sinh là loại thuốc có tác dụng điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn. Chúng làm điều này bằng cách làm gián đoạn khả năng sinh trưởng hoặc phát triển của vi khuẩn.

Có nhiều loại, hoặc nhiều nhóm, kháng sinh và một số vi khuẩn nhạy cảm với một số nhóm hơn những loại khác. Ngoài ra, vi khuẩn có thể phát triển để kháng lại thuốc kháng sinh.

Mặc dù nhiễm trùng do vi khuẩn xảy ra trên hoặc trong cơ thể chúng ta, thử nghiệm độ nhạy kháng sinh thường xảy ra trong môi trường phòng thí; nghiệm (trong ống nghiệm).

Các yếu tố cần xem xét

Bây giờ chúng ta đã xem qua các định nghĩa và khám phá một số ví; dụ, bạn có thể tự hỏi liệu có ưu hay nhược điểm khi sử dụng cái này hơn cái kia.

Có một số yếu tố cần xem xét khi so sánh công việc in vitro và in vivo. Chúng có thể bao gồm:

Bối cảnh

Xin nhắc lại, thứ gì đó in vivo ở trong bối cảnh của một cơ thể sống trong khi thứ gì đó in vitro thì không.

Cơ thể chúng ta và các hệ thống cấu thành chúng rất phức tạp. Do đó, nghiên cứu được thực hiện trong ống nghiệm có thể không tái tạo chí;nh xác các điều kiện xảy ra bên trong cơ thể. Do đó, kết quả phải được diễn giải cẩn thận.

Một ví; dụ về điều này là thụ tinh trong ống nghiệm so với thụ tinh trong cơ thể.

Trong cơ thể sống, rất í;t tinh trùng thực sự có khả năng thụ tinh với trứng. Trên thực tế, việc chọn lọc các quần thể tinh trùng cụ thể được thực hiện qua trung gian trong ống dẫn trứng.Trong quá trình thụ tinh ống nghiệm, việc chọn lọc tinh trùng chỉ có thể được bắt chước một phần.

Tuy nhiên, động lực chọn lọc trong ống dẫn trứng cũng như phẩm chất của các quần thể tinh trùng được chọn lọc in vivo là một lĩnh vực cần được nghiên cứu nhiều hơn. Các nhà nghiên cứu hy vọng rằng những phát hiện này sẽ cung cấp thông tin tốt hơn về việc lựa chọn tinh trùng cho IVF.

Tương quan

Trong một số trường hợp, những gì bạn quan sát được trong ống nghiệm có thể không tương quan với những gì thực sự xảy ra trong cơ thể sống. Hãy sử dụng thử nghiệm độ nhạy với kháng sinh làm ví; dụ.

Như chúng ta đã thảo luận trước đó, kiểm tra độ nhạy kháng sinh có thể được thực hiện bằng một số phương pháp in vitro. Nhưng làm thế nào để những phương pháp này tương quan với những gì thực sự xảy ra trong vivo?

Một bài báo giải quyết câu hỏi này. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một số điểm mâu thuẫn trong kết quả của thử nghiệm trong ống nghiệm so với kết quả lâm sàng thực tế.

Trên thực tế, 64 phần trăm những người bị nhiễm vi khuẩn được báo cáo là đã kháng với cefotaxime kháng sinh được đánh giá là có phản ứng tốt với điều trị bằng kháng sinh.

Thay đổi

Trong một số trường hợp, một sinh vật có thể thí;ch nghi với môi trường trong ống nghiệm. Điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả hoặc quan sát. Một ví; dụ về điều này là cách vi rút cúm thay đổi để đáp ứng với các chất nền phát triển trong phòng thí; nghiệm.

Bệnh cúm, hay bệnh cúm, là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp do vi rút cúm gây ra. Trong các phòng thí; nghiệm nghiên cứu, virus này thường được nuôi trong trứng gà.

Người ta quan sát thấy rằng các phân lập lâm sàng của vi rút có thể tạo thành các hạt dài và dạng sợi trong tự nhiên. Sự phát triển tiếp tục trong trứng đôi khi có thể thay đổi hình dạng của vi rút từ dạng sợi sang hình cầu.

Nhưng hình dạng virut không phải là thứ duy nhất có thể bị ảnh hưởng khi thí;ch nghi với trứng. Những thay đổi về khả năng thí;ch nghi của trứng xảy ra ở các chủng vắc xin có thể tác động hiệu quả của vắc xin.

Điểm mấu chốt

In vitro và in vivo là hai thuật ngữ mà bạn có thể thỉnh thoảng gặp phải, đặc biệt là khi đọc về các nghiên cứu khoa học.

In vivo đề cập đến thời điểm nghiên cứu hoặc công việc được thực hiện với hoặc trong toàn bộ sinh vật sống. Ví; dụ có thể bao gồm các nghiên cứu trên mô hình động vật hoặc thử nghiệm lâm sàng trên người.

In vitro được sử dụng để mô tả công việc được thực hiện bên ngoài một cơ thể sống. Điều này có thể bao gồm nghiên cứu tế bào trong nuôi cấy hoặc các phương pháp kiểm tra độ nhạy kháng sinh của vi khuẩn.

Xem thêm: Exclude Là Gì – Nghĩa Của Từ Exclude

Hai thuật ngữ thực chất là đối lập của nhau. Nhưng bạn có thể nhớ cái nào là cái nào không? Một cách để làm điều này là lưu ý rằng âm thanh in vivo giống như những từ đề cập đến cuộc sống, chẳng hạn như sống, khả thi hoặc hoạt bát.

Chuyên mục: Hỏi Đáp

=> Xem thêm: Tin tức tổng hợp tại Chobball

Comments are closed.