Overflow là gì

Overflow là gì

Trong các lĩnh vực an ninh máy tính và lập trình, một lỗi tràn bộ nhớ đệm hay gọi tắt là lỗi tràn bộ đệm (tiếng Anh: buffer overflow) là một lỗi lập trình có thể gây ra một ngoại lệ truy nhập bộ nhớ máy tính và chương trình bị kết thúc, hoặc khi người dùng có ý phá hoại, họ có thể lợi dụng lỗi này để phá vỡ an ninh hệ thống.

Lỗi tràn bộ đệm là một điều kiện bất thường khi một tiến trình lưu dữ liệu vượt ra ngoài biên của một bộ nhớ đệm có chiều dài cố định. Kết quả là dữ liệu đó sẽ đè lên các vị trí bộ nhớ liền kề. Dữ liệu bị ghi đè có thể bao gồm các bộ nhớ đệm khác, các biến và dữ liệu điều khiển luồng chạy của chương trình (program flow control).

Các lỗi tràn bộ đệm có thể làm cho một tiến trình đổ vỡ hoặc cho ra các kết quả sai. Các lỗi này có thể được kích hoạt bởi các dữ liệu vào được thiết kế đặc biệt để thực thi các đoạn mã phá hoại hoặc để làm cho chương trình hoạt động một cách không như mong đợi. Bằng cách đó, các lỗi tràn bộ đệm gây ra nhiều lỗ hổng bảo mật (vulnerability) đối với phần mềm và tạo cơ sở cho nhiều thủ thuật khai thác (exploit). chobball.vnệc kiểm tra biên (bounds checking) đầy đủ bởi lập trình chobball.vnên hoặc trình biên dịch có thể ngăn chặn các lỗi tràn bộ đệm.

Bạn đang xem: Overflow là gì

Mục lục

Xem thêm: Brooch Là Gì

1 Mô tả kỹ thuật 1.1 Ví dụ cơ bản 1.2 Tràn bộ nhớ đệm trên stack 1.3 Mã nguồn ví dụ 2 Khai thác 2.1 Khai thác lỗi tràn bộ đệm trên stack 2.2 Khai thác lỗi tràn bộ đệm trên heap 2.3 Cản trở đối với các thủ thuật khai thác 3 Chống tràn bộ đệm 3.1 Lựa chọn ngôn ngữ lập trình 3.2 Sử dụng các thư chobball.vnện an toàn 3.3 Chống tràn bộ nhớ đệm trên stack 3.4 Bảo vệ không gian thực thi 3.5 Ngẫu nhiên hóa sơ đồ không gian địa chỉ 3.6 Kiểm tra sâu đối với gói tin 4 Lịch sử khai thác 5 Xem thêm 6 Chú thích 7 Liên kết ngoài 7.1 Tiếng chobball.vnệt 7.2 Tiếng Anh

Xem thêm: Độ Phân Giải Tiếng Anh Là Gì, Độ Phân Giải Màn Hình Tiếng Anh Là Gì

Mô tả kỹ thuật

Một lỗi tràn bộ nhớ đệm xảy ra khi dữ liệu được chobball.vnết vào một bộ nhớ đệm, mà do không kiểm tra biên đầy đủ nên đã ghi đè lên vùng bộ nhớ liền kề và làm hỏng các giá trị dữ liệu tại các địa chỉ bộ nhớ kề với vùng bộ nhớ đệm đó. Hiện tượng này hay xảy ra nhất khi sao chép một xâu ký tự từ một bộ nhớ đệm này sang một vùng bộ nhớ đệm khác.

Ví dụ cơ bản

Trong ví dụ sau, một chương trình đã định nghĩa hai phần tử dữ liệu kề nhau trong bộ nhớ: A là một bộ nhớ đệm xâu ký tự dài 8 byte, và B là một số nguyên kích thước 2 byte. Ban đầu, A chỉ chứa toàn các byte giá trị 0, còn B chứa giá trị 3. Các ký tự có kích thước 1 byte.

Tên biến A A A A A A A A B B Giá trị 0 0 0 0 0 0 0 0 0 3

Bây giờ, chương trình ghi một xâu ký tự “excessive” vào bộ đệm A, theo sau là một byte 0 để đánh dấu kết thúc xâu. Vì không kiểm tra độ dài xâu, nên xâu ký tự mới đã đè lên giá trị của B:

Tên biến A A A A A A A A B B Giá trị “e” “x” “c” “e” “s” “s” “i” “v” “e” 0

Tuy lập trình chobball.vnên không có ý định sửa đổi B, nhưng giá trị của B đã bị thay thế bởi một số được tạo nên từ phần cuối của xâu ký tự. Trong ví dụ này, trên một hệ thống big-endian sử dụng mã ASCII, ký tự “e” và tiếp theo là một byte 0 sẽ trở thành số 25856.

Nếu B là phần tử dữ liệu duy nhất còn lại trong số các biến được chương trình định nghĩa, chobball.vnệc chobball.vnết một xâu ký tự dài hơn nữa và vượt quá phần cuối của B sẽ có thể gây ra một lỗi chẳng hạn như segmentation fault (lỗi phân đoạn) và tiến trình sẽ kết thúc.

Tràn bộ nhớ đệm trên stack

Bên cạnh chobball.vnệc sửa đổi các biến không liên quan, hiện tượng tràn bộ đệm còn thường bị lợi dụng (khai thác) bởi tin tặc để làm cho một chương trình đang chạy thực thi một đoạn mã tùy ý được cung cấp. Các kỹ thuật để một tin tặc chiếm quyền điều khiển một tiến trình tùy theo vùng bộ nhớ mà bộ đệm được đặt tại đó. Ví dụ, vùng bộ nhớ stack, nơi dữ liệu có thể được tạm thời “đẩy” xuống “đỉnh” ngăn xếp (push), và sau đó được “nhấc ra” (pop) để đọc giá trị của biến. Thông thường, khi một hàm (function) bắt đầu thực thi, các phần tử dữ liệu tạm thời (các biến địa phương) được đẩy vào, và chương trình có thể truy nhập đến các dữ liệu này trong suốt thời gian chạy hàm đó. Không chỉ có hiện tượng tràn stack (stack overflow) mà còn có cả tràn heap (heap overflow).

Trong ví dụ sau, “X” là dữ liệu đã từng nằm tại stack khi chương trình bắt đầu thực thi; sau đó chương trình gọi hàm “Y”, hàm này đòi hỏi một lượng nhỏ bộ nhớ cho riêng mình; và sau đó “Y” gọi hàm “Z”, “Z” đòi hỏi một bộ nhớ đệm lớn:

Z Z Z Z Z Z Y X X X             : / / /

Nếu hàm “Z” gây tràn bộ nhớ đệm, nó có thể ghi đè dữ liệu thuộc về hàm Y hay chương trình chính:

Z Z Z Z Z Z Y X X X . . . . . . . . / /

Điều này đặc biệt nghiêm trọng đối với hầu hết các hệ thống. Ngoài các dữ liệu thường, bộ nhớ stack còn lưu giữ địa chỉ trả về, nghĩa là vị trí của phần chương trình đang chạy trước khi hàm hiện tại được gọi. Khi hàm kết thúc, vùng bộ nhớ tạm thời sẽ được lấy ra khỏi stack, và thực thi được trao lại cho địa chỉ trả về. Như vậy, nếu địa chỉ trả về đã bị ghi đè bởi một lỗi tràn bộ đệm, nó sẽ trỏ tới một vị trí nào đó khác. Trong trường hợp một hiện tượng tràn bộ đệm không có chủ ý như trong ví dụ đầu tiên, hầu như chắc chắn rằng vị trí đó sẽ là một vị trí không hợp lệ, không chứa một lệnh nào của chương trình, và tiến trình sẽ đổ vỡ. Tuy nhiên, một kẻ tấn công có thể chỉnh địa chỉ trả về để trỏ tới một vị trí tùy ý sao cho nó có thể làm tổn hại an ninh hệ thống.

Mã nguồn ví dụ

Mã nguồn C dưới đây thể hiện một lỗi lập trình thường gặp. Sau khi được biên dịch, chương trình sẽ tạo ra một lỗi tràn bộ đệm nếu nó được gọi với một tham số dòng lệnh là một xâu ký tự quá dài, vì tham số này được dùng để ghi vào một bộ nhớ đệm mà không kiểm tra độ dài của nó.[1]

Chuyên mục: Hỏi Đáp

=> Xem thêm: Tin tức tổng hợp tại Chobball

Comments are closed.